Thời gian mở cửa: Thứ 3 - thứ 6: Sáng: 7h30 đến 11h30  -  Chiều: 13h00 đến 17h00;  Thứ 7 - Chủ nhật: 17h00 đến 21h00 
 

 Thông báo

 
 
 

 Thư viện ảnh

 
 

 Video

 
  • Lễ cấp sắc của người Dao ở Đồng Nai
  • Nghề đóng ghe thuyền ở Đồng Nai
  • Nghề dệt thổ cẩm của người Mạ ở Đồng Nai
  • Hoa văn nhà cổ ở Đồng Nai
  • Nghề đá Bửu Long - Biên Hòa
  • Giới thiệu các phòng trưng bày cố định
  • Địa trong văn hóa dân gian người Việt
  • Bảo tàng Đồng Nai - địa chỉ đỏ tìm hiểu về truyền thống
  • Sinh hoạt của học sinh tại Bảo tàng Đồng Nai
  • Nghề nấu mía đường thủ công truyền thống ở Vĩnh Cửu
  • Thư viện video
     
     

     Liên Kết Website

     
     

     Nội dung tin

     
    ĐIỀU TRA THÁM SÁT DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC HƯNG THỊNH, XÃ HƯNG LỘC, HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
    Đăng ngày: 07-06-2018 09:05
    Di tích khảo cổ học Hưng Thịnh được phát hiện vào năm 1977 nhờ một thông báo của chủ đất là ông Nguyễn Văn Tô. Tháng 11 cùng năm, Đoàn cán bộ của Viện KHXH tại TP HCM đã phối hợp với Ty VH-TT tỉnh Đồng Nai tổ chức khảo sát địa điểm này. Trong đợt khảo sát đã thu được 39 công cụ đá, gồm 17 rìu cuốc có vai, 2 mũi nhọn, 1 dao hái, 1 công cụ hình tròn, 18 mảnh bàn mài và nhiều mảnh tước. Các mảnh gốm thuộc 2 loại: Một loại làm bằng đất sét mịn, áo màu nâu đỏ hay nâu hồng; Loại kia làm bằng sét có pha trộn nhiều hạt đá nhỏ màu xám trắng, áo gốm màu nâu nhạt hay nâu đỏ. Di tich được định niên đại khoảng 3500 – 4000 năm trước đây, thuộc giai đoạn phát triển cao hơn di tích xưởng Cầu Sắt, đồng đại với di tích Hàng Gòn 1 (Núi Gốm). Lê Xuân Diệm còn cho biết, vào đầu năm 1978, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam có tiến hành đào thám sát tại Hưng Thịnh. Tuy nhiên, cho đến nay, kết quả đào thám sát vẫn chưa thấy được công bố.

    ​            ​Tháng 2 năm 2012, Bảo tàng tỉnh Đồng Nai đã tổ chức khảo sát lại di tích Hưng Thịnh1. Sau hơn 30 năm, con người và cảnh quan ở đây đã có nhiều thay đổi, khu vực di tích nay thuộc ấp Hưng Hiệp, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Ông Nguyễn Văn Tô đã mất. Khu đất của gia đình nay do các con của ông quản lý và canh tác trồng điều và ca cao, hiện vẫn còn thấy một số mảnh gốm cổ và công cụ đá. Dù đã tiến hành điều tra trên diện rộng, đoàn khảo sát vẫn không phân biệt được hai khu vực của di tích như Lê Xuân Diệm đã công bố.

    Tháng 4 năm 2012 Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Viện Phát triển vùng Nam Bộ, Trường Đại học KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh đã tổ chức đào thám sát lại di tích theo quyết định của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai.

    I. Vị trí các hố thám sát và cấu trúc địa tầng

    Trên bản đồ chụp từ vệ tinh của Google Earth (Hình 1), di tích Hưng Thịnh nằm về phía chính nam và cách Quốc lộ 1A (ở vị trí phía đông bắc, cách chợ Hưng Lộc 250m) 2,9 km. Ngã 3 Dầu Giây (nay là ngã 4) nằm ở phía đông bắc và cách di tích gần 4 km. Suối Bí nằm sát phía tây di tích, có dòng chảy theo hướng bắc – nam, đổ ra sông Nhạn. Khu vực còn xuất lộ gốm cổ có hình tam giác cân, mỗi cạnh dài 150-170m, cạnh phía bắc chạy gần đúng hướng đông – tây và một góc ở phía nam.

    Hố thám sát 1 (ký hiệu TS1) được mở trong vườn điều ở phía tây bắc, cách nhà anh Phong 50m, trên một triền đất thấp gần suối Bí, phía nam con đường mòn từ suối vào nhà anh Phong. Hố có dạng hình vuông, kích thước 2 x 2m = 4m2, các cạnh được lấy theo đúng hướng bắc - nam và đông – tây. Bề mặt hiện tại ở đây hơi dốc, cao ở hướng bắc, thấp dần về hướng nam, tuy độ chênh lệch chỉ khoảng 10cm. Hố thám sát được đào bóc từng lớp đất, bao gồm lớp mặt và 7 lớp đào, mỗi lớp dày 10 – 15cm, đạt tới độ sâu 70 - 80cm so với bề mặt hay 400 - 410cm dưới 0 qui ước. Trong hố TS1 đã thu được 1 rìu đá hình tứ giác (trong lớp mặt hay lớp đào 1), 14 mảnh vỡ đá các loại và 482 mảnh gốm. Hiện vật được phân bố gần như đều khắp ở tất cả các lớp đào. Tuy nhiên, các lớp địa tầng 1 và 2 đã bị xáo trộn. Lớp 3 với bề mặt khá lồi lõm là tầng văn hóa còn tương đối giữ được in situ.

    Hố thám sát 2 (TS2) ở về phía đông và cách TS1 73,5m (khoảng cách giữa các góc đông bắc của hai hố), nằm ở rìa phía nam của vườn ca cao, sát phía đông đường vào nhà anh Phong. Theo chỉ dẫn của vợ chồng anh Phong, hố TS2 nằm rất gần với hố thám sát do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thực hiện vào năm 1978. Hố TS2 có dạng hình chữ nhật, kích thước 2 x 1m = 2m2, dài theo đúng hướng đông – tây. Bề mặt ở đây tương đối bằng phẳng, sau khi đào qua lớp mặt, đất trong hố được đào thành 7 lớp, đạt độ sâu 75 - 78 cm so với bề mặt hiện tại hay 130cm dưới 0 qui ước. Hiện vật trong hố TS2 có khá nhiều, gồm công cụ đá (4 hiện vật), mảnh vỡ (36), mảnh gốm tròn (1) và 1308 mảnh gốm, tập trung nhiều ở lớp đào 3 và nhất là lớp 4, tương ứng độ sâu 25 – 45cm so với bề mặt, phù hợp với lớp 3 (lớp đất xám nâu) trong cấu trúc địa tầng. Có thể thấy rằng, lớp địa tầng 1 và 2 là những lớp đất đã bị xáo trộn.  Tầng văn hóa in situ bao gồm 2 lớp là lớp 3 và lớp 4.

    Hố thám sát 3 (TS3) nằm ở hướng bắc-tây bắc, cách TS2 47,5m, phía bắc con đường mòn từ suối Bí, trong vườn chôm chôm của gia đình anh Trần Đình Thành. Hố có dạng hình vuông, kích thước 2 x 2m = 4m2, các cạnh chạy theo đúng hướng bắc nam và đông tây. Bề mặt ở đây hơi dốc dần từ bắc xuống nam, đất trong hố khá mềm, bở rời. Ngoài lớp mặt, có 6 lớp đào đã được thực hiện trong hố, mỗi lớp đào dày trung bình 15 – 20cm, đạt độ sâu 95 – 100cm so với bề mặt. Trong hố đào hầu như không có hiện vật cổ, một số mảnh gốm được phát hiện trong một hố đất đen hình thấu kính, nằm giữa lớp 1 và 2, có tích tụ là đất tạp, bở rời, nhiều rễ cây. Trong lớp đất xám đen (lớp 2) cũng có một vệt tích tụ rải rác những mảnh gốm. Tổng cộng, trong hố TS3 chỉ thu được 169 mảnh gốm và 11 mảnh đá có vết và không có vết sử dụng. Những hiện vật này có lẽ chỉ tình cờ rơi rớt ở đây trong quá trình hoạt động và canh tác đất của dân địa phương từ xưa đến nay. Hoàn toàn không thấy có dấu vết cư trú cổ hay tầng văn hóa.

    Quan sát diễn biến địa tầng của hai hố TS1 và TS2 có thể nhận thấy rằng cấu trúc địa tầng ở di tích Hưng Thịnh khá đơn giản. Dưới lớp đất mặt hay lớp canh tác hiện đại, dày khoảng 10 – 20cm, còn một lớp đất nữa, dày 10 – 30cm,  màu xám đen, cũng đã bị xáo trộn qua thời gian. Lớp này có thể không có ở một số nơi như phía đông nam của TS2. Dưới lớp bị xáo trộn là tầng văn hóa, gồm 1 hoặc 2 lớp văn hóa. Có thể thấy bề mặt bên trên của tầng văn hóa cũng đã bị hủy hoại khá nhiều. Sinh thổ là lớp sỏi sạn laterit kết chặt, dưới nữa là đá gốc bazan.

     Có một nhận xét nữa khi đối chiếu kết quả khảo sát với những miêu tả trước đây của Lê Xuân Diệm. Ở đây, lớp đất đỏ bazan đặc trưng của vùng Long Khánh nay không còn nữa. Thay vào đó đã hình thành lớp đất thịt hay đất mùn màu đen hoặc xám đen, có lẽ là kết quả của quá trình canh tác, sử dụng đất với cường độ cao của người dân địa phương trong khoảng hơn 30 năm gần đây.

    II. Hiện vật

    Trong quá trình khảo sát và đào các hố thám sát ở di tích Hưng Thịnh năm 2012 đã thu được 40 hiện vật đá, 1 mảnh gốm tròn và 1959 mảnh đồ gốm.

    II.1. Hiện vật đá.

    II.1.1. Hiện vật trong các hố thám sát: Có 5 công cụ và mảnh vỡ được phát hiện, trong đó 1 rìu tứ giác ở lớp đào 1 của TS1, 1 công cụ mũi nhọn và 1 mảnh lưỡi rìu ở lớp đào 3 của TS2, 2 chuôi rìu ở lớp đào 4 của TS2. Trong các hố thám sát cũng đã thu dược 61 mảnh đá không định hình, có và không có dấu vết chế tác hay sử dụng. Trong đó, ở TS1 có 14 mảnh, TS2 có 36 mảnh và TS3 có 11 mảnh.

    II.1.1. Hiện vật ngoài hố thám sát: Trong đợt khảo sát tháng 2 năm 2012 và trong đợt khảo sát lần này đã thu lượm được trên bề mặt hoặc được dân địa phương trao lại tổng cộng 35 hiện vật đá, gồm 1 cuốc, 8 rìu, 5 đục, 4 dao hái, 1 dao chặt, 1 hòn nghiền, 10 đá mài và 5 mảnh vỡ công cụ.

    II.2. Hiện vật gốm

    Trong lớp 4 hố TS2 đã thu được một mảnh gốm có vết gia công ghè và mài rìa xung quanh tạo hình tròn, đường kính 3,1cm và dày 0,45cm. Đây là mảnh gốm màu nâu, thuộc gốm nhỏm 3 theo như phân loại ở dưới. Ngoài ra, không có hiện vật là đồ đựng bằng gốm nào còn nguyên vẹn hoặc nguyên dạng. Trong 3 hố thám sát đã thu được 1959 mảnh các đồ đựng bằng gốm. Các mảnh gốm đã được chỉnh lí, phân loại theo chất liệu, loại hình và hoa văn.

    * Chất liệu: Dựa vào thành phần nguyên liệu và màu sắc gốm có thể được chia thành những nhóm chính sau:

    - Nhóm 1: Gốm có xương màu xám. Thành phần nguyên liệu gồm có sét pha cát và bã thực vật. Gốm hơi thô, xốp và nhẹ. Áo gốm mỏng nên rất dễ bị bong tróc, mặt ngoài thường nhám hay lỗ rỗ. Nhóm gốm này có rất ít, chỉ gồm 49 mảnh, chiếm khoảng 2,5% trong tổng số gốm thu được ở Hưng Thịnh.

    - Nhóm 2: Gốm có xương màu xám nhạt, hồng nhạt. Thành phần nguyên liệu gồm có sét pha cát hạt to, sỏi sạn, không có bã thực vật. Gốm có phần thô, cứng chắc. Áo gốm dày, thường phủ cả phía trong lẫn phía ngoài. Gốm thường dày từ 0.3 – 0.5cm, rất hiếm mảnh dày trên 0.5cm. Dựa vào loại hình đồ gốm phổ biến trong các di tích văn hóa Đồng Nai đã thu được, có thể thấy các mảnh gốm ở nhóm 2 chủ yếu thuộc các loại hình đồ đựng như bát bồng, chum có kích thước nhỏ, nồi…. Nhóm gốm này có 617 mảnh, chiếm gần 31,5%  trong tổng số các mảnh gốm đã thu được.

    - Nhóm 3: Nhóm có xương gốm màu nâu, hồng, xám nhạt, thành phần nguyên liệu gồm có sét pha cát hạt nhỏ, sỏi sạn hạt nhỏ hoặc vỏ nhuyễn thể giã nhỏ, không có bã thực vật nên gốm có phần cứng chắc và mịn hơn so với các mảnh gốm ở nhóm 2. Đặc trưng về áo gốm và độ dày trung bình của mảnh gốm cũng giống với nhóm gốm loại 2. Các mảnh gốm nhóm 3 phần lớn thuộc loại hình đồ đựng như nhóm 2 gồm nồi, bát bồng, chén… Nhóm gốm này có số lượng nhiều nhất trong ba nhóm, gồm 1293 mảnh, chiếm 66% số mảnh gốm thu được trong đợt đào thám sát Hưng Thịnh lần này.

    * Loại hình

    - Loại hình miệng: Các mảnh miệng đồ gốm ở Hưng Thịnh thu được gồm 39 tiêu bản, có thể chia thành 4 loại: Miệng loe khum chiếm số lượng đại đa số, chỉ thấy ở các đồ đựng thuộc gốm nhóm 3; Miệng loe xiên chỉ có 3 tiêu bản thường là miệng của tô, đĩa có kích thước trung bình; Miệng loe có 3 tiêu bản thuộc loại hình miệng của chén, nồi, bình có kích thước trung bình; Miệng khum chỉ có 1 mảnh thuộc gốm nhóm 3. Ngoài ra còn một mảnh miệng bị vỡ nhỏ nên không xác định được loại hình.

    - Loại hình chân đế: Trong đợt thám sát lần này thu được 30 mảnh chân đế của các loại đồ đựng bằng gốm, không có tiêu bản chân đế nào còn nguyên vẹn nào. Qua các mảnh chân đế có thể chia thành 2 loại: chân đế cao và chân đế thấp. Hai loại chân đế này thường thấy khá phổ biến trong các di chỉ khảo cổ học ở Đồng Nai như Gò Me, Bình Đa ở Biên Hòa, Rạch Lá, Cái Lăng ở Nhơn Trạch… và còn thấy tại di chỉ An Sơn (Long An)…

    * Hoa văn: Trong số 1890 mảnh gốm thu được ở Hưng Thịnh đã ghi nhận được 164 mảnh có hoa văn, chiếm 8,67%. Phần lớn hoa văn được tạo bằng kỹ thuật chải, đập, số ít hơn được in thừng, khắc vạch, trên một vài mảnh còn có văn in vỏ sò. Các motip hoa văn không phong phú lắm, thấy có những đường vạch thẳng hay hình sóng song song, dải băng in sò hình răng sói, vạch dích dắc. Kỹ thuật tạo văn và các motip hoa văn này cũng thường thấy trên đồ gốm ở các di tích khác thuộc văn hóa Đồng Nai.

    III. Nhận xét

    - Khu vực cư trú của cư dân cổ Hưng Thịnh chỉ tấp trung trên phạm vi đất vườn nhà anh Nguyễn Thanh Phong, trong khu vực có hai hố TS1 và TS2, có thể rộng hơn đôi chút về phía nam. Ở khu vực hố TS3 chỉ có dấu vết hoạt động của cư dân cổ nhưng không phải là nơi cư trú.

    - Địa hình di tích có độ dốc bề mặt nghiêng thấp dần từ đông qua tây. Địa hình bề mặt như vậy dường như không thay đổi nhiều từ xưa đến nay. Tuy nhiên, ở vùng đất thấp phía tây, lớp đất mặt đã được bồi tụ dày hơn.

    - Tầng văn hóa ở TS2 có hai lớp của cùng một thời kỳ cư trú. Lớp dưới (lớp địa tầng 4) màu xám đen, kết cấu chặt, là lớp nền sinh hoạt cổ (tương tự như nền sân, nhà). Lớp trên có kết cấu bở hơn, là tàn tích để lại trong quá trình sinh sống hoặc sau khi khu cư trú bị bỏ rơi thành hoang phế

    Nhìn chung, sưu tập công cụ đá ở Hưng Thịnh có những nét gần gũi nhất với di tích Cầu Sắt (Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Khắc Sử, 1977, tr. 12-18). Các công cụ như dao hái, đục, bàn mài hình trụ phổ biến ở di tích Cầu Sắt, cũng có với số lượng và tỉ lệ không ít, chiếm vị trí không nhỏ trong đời sống cư dân cổ Hưng Thịnh. Những công cụ như rìu, dao hái cũng cho thấy cư dân Hưng Thịnh đã canh tác nông nghiệp như cư dân Cầu Sắt. Tuy nhiên, giữa hai di tích cũng có những khác biệt. Công cụ đá ở Hưng Thịnh có dáng vẻ được chế tác, trau chuốt cẩn thận và hoàn chỉnh hơn, rìu có vai chiếm tỉ lệ áp đảo so với loại hình rìu tứ giác, ít rìu hình tam giác, ít công cụ mũi nhọn.  Đặc biệt, ở Hưng Thịnh còn có một tiêu bản bàn mài hình thang, giống bàn mài có lỗ đeo, vốn là đặc trưng của các di tích giai đoạn muộn của văn hóa Đồng Nai như Cái Lăng – 2700 BP (Trịnh Sinh và các đồng sự. 2001, tr.19), Hàng Gòn 7 (Mộ Cự thạch) – 2000 BP (Phạm Quang Sơn. 2006) và chưa thấy có ở các giai đoạn sớm như Cầu Sắt.

    Về chất liệu và hoa văn, đồ gốm ở Hưng Thịnh cũng tương tự như gốm của nhiều di tích khác thuộc văn hóa Đồng Nai. Hai loại gốm chủ đạo của Hưng Thịnh là gốm pha cát hạt mịn (loại 3) và gốm pha cát hạt thô (loại 2) cũng phổ biến trong các di tích thuộc giai đoạn sớm trên vùng đất đỏ bazan. Gốm loại 3 ở Hưng Thịnh đã có mặt sớm hơn đôi chút, nhưng sau đó đã tồn tại song song cùng gốm loại 2 trong suốt thời kỳ cư trú của cư dân cổ. Ở Hưng Thịnh hầu như không có gốm pha trộn nhiều bã thực vật, là đặc trưng của các di tích thuộc giai đoạn muộn và phổ biến ở các di tích vùng thấp và ngập mặn như ở các huyện Long Thành, Nhơn Trạch (Đồng Nai) hay các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An và Tp.Hồ Chí Minh. Hoa văn trên đồ gốm Hưng Thịnh với kỹ thuật chải, đập, khắc vạch, in sò và các họa tiết hình sóng, răng sói, đường song song cũng phổ biến rộng rãi trong các di tích văn hóa Đồng Nai từ các giai đoạn sớm đến muộn.

    Các loại đồ đựng bằng gốm ở Hưng Thịnh như bát bồng, tô, chén, đĩa, nồi…và các kiểu dáng của chúng cũng là các loại hình rất phổ biến trong văn hóa Đồng Nai. Đáng ngạc nhiên là trong sưu tập các mảnh gốm đã có, tuy rất ít, loại chân đế 1c của bát bồng, vốn là sản phẩm của các giai đoạn muộn (Nguyễn Thị Hoài Hương, 2007.).

    Từ những nhận xét trên, có thể thấy rằng, khó có thể đưa ra một kết luận chắc chắn nào về niên đại của di tích Hưng Thịnh. Một mặt di tích có nhiều đặc trưng của giai đoạn sớm như ở di tích Cầu sắt. Bên cạnh đó cũng không thiếu những yếu tố muộn của văn hóa Đồng Nai. Tôi nghiêng về một giả thiết cho rằng tại di tích Hưng Thịnh đã tồn tại ít nhất hai thời kỳ cư trú, hoặc hai địa điểm hay hai di tích khác nhau như Lê Xuân Diệm đã có ghi nhận. Có thể một lớp văn hóa muộn đã bị hủy hoại, không còn giữ được tầng văn hóa in situ. Cũng có thể di tích thứ hai chưa được khảo sát kỹ trong đợt công tác vừa qua. Trong trường hợp nếu chỉ có một giai đoạn cư trú và có một lớp văn hóa duy nhất thì cư dân Hưng Thịnh đã định cư ở đây muộn hơn nhiều, nhưng vẫn giữ được nhiều yếu tố văn hóa của cư dân Cầu Sắt.

    Tài liệu tham khảo

              1- Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Khắc Sử, 1977, “Địa điểm hậu kỳ đá mới Cầu Sắt”, tạp chí Khảo cổ học, số 4, tr.12-18.

              2- Lê Xuân Diệm, 1978, “Di chỉ khảo cổ học Hưng Thịnh (Thống Nhất, Đồng Nai)”, Những phát hiện khảo cổ học ở miền Nam, TP HCM, Tr. 166-178.

              3- Lê Xuân Diệm, Phạm Quang Sơn, Bùi Chí Hoàng 1991, Khảo cổ Đồng Nai thời tiền sử, Nhà xuất bản Đồng Nai.

              4- Nguyễn Thị Hoài Hương. 2007, “Đồ gốm ở di tich Mộ Cự thạch Hàng Gòn, đợt khai quật 2007”, Kỷ yếu hội thảo “Báo cáo kết quả thăm dò, khai quật di tích khảo cổ học Mộ Cự thạch Hàng Gòn”, Đồng Nai, Tháng 12/2007.

              5- Phạm Quang Sơn. 2006. Báo cáo điều tra - đào thám sát di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn (thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). Tư liệu Ban Quản lý di tích-danh thắng tỉnh Đồng Nai. 25tr.

              6- Trịnh Sinh và các đồng sự. 2001. Báo cáo khai quật di chỉ khảo cổ học Cái Lăng, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai lần thứ nhất năm 2000. Tư liệu Bảo tàng Đồng Nai. 65tr.

                                                                                                                      Phạm Quang Sơn

                                                                      Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ.

                                                                                                                                        Nguyễn Thị Tuyết Trinh

                                                                                                        Cán bộ phòng Di sản văn hóa.

                                                              Đoàn gồm: Ông Lưu Văn Du (Giám đốc Bảo tàng Đồng Nai, trưởng đoàn), 

                                   Nguyễn Thị Tuyết Trinh (BT ĐN), Nguyễn Văn Long và Phạm Quang Sơn (Viện PTBV vùng NB)

    In nội dung
    Các tin đã đăng ngày:
    RadDatePicker
    RadDatePicker
    Open the calendar popup.
    BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
    Địa chỉ: Số 1, Nguyễn Ái Quốc, P. Tân Phong, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
    Điện thoại: 0251.3827345 - Fax: 0251.3810587
    Email: baotangdongnai@gmail.com